LỊCH ÂM DƯƠNG

MƯỜI ĐIỀU TÂM NIỆM

1. Nghĩ đến thân thể thì đừng cầu không bệnh tật, vì không bệnh tật thì dục vọng dễ sanh.
2. Ở đời đừng cầu không khó khăn, vì không khó khăn thì kiêu sa nổi dậy.
3. Cứu xét tâm tánh đừng cầu không khúc mắc, vì không khúc mắc sở học không thấu kiệt.
4. Sự nghiệp đừng cầu không bị trở ngại, vì không trở ngại thì chí nguyện không kiên cường.
5. Làm việc đừng mong dễ thành, vì việc dễ thành thì lòng thị thường kiêu ngạo.
6. Giao tiếp đừng cầu lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.
7. Với người đừng mong tất cả đều thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì lòng tất tự kiêu.
8. Thi ân đừng cầu đền đáp, vì cầu đền đáp là thi ân mà có ý có mưu đồ.
9. Thấy lợi đừng nhúng vào, vì nhúng vào thì hắc ám tâm trí.
10. Oan ức không cần biện bạch, vì biện bạch là hèn nhát mà oán thù càng tăng thêm.
Bởi vậy, Phật đã thiết lập chánh pháp lấy bệnh khổ làm thuốc thần, lấy hoạn nạn làm thành công, lấy gai góc làm giải thoát, lấy ma quân làm đạo bạn, lấy khó khăn làm sự tác thành, lấy bạn tệ bạc làm người giúp đỡ, lấy kẻ chống nghịch làm người giao du, coi thi ân như đôi dép, lấy sự xả lợi làm vinh hoa, lấy oan ức làm đà tiến thân. Do đó, ở trong trở ngại mà vượt qua tất cả, ngược lại cầu dễ dàng thì bị khúc mắc. Đức Thế Tôn được giác ngộ ngay trong mọi sự trở ngại. Ương quật hành hung. Ngày nay, những người học Đạo, trước hết không dấn mình vào sự trở ngại nên khi trở ngại xáp tới thì không thể nào đối phó. Chánh pháp chí thượng vì vậy mất cả, đáng tiếc đáng hận biết ngần nào ?
Trích: Luận Bảo Vương Tam Muội

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Vu Mai Phuong)
  • (vumaip)

Điều tra ý kiến

Quan điểm của bạn trước tình trạng học sinh hư?
Xử phạt nặng
Nhắc nhở rồi thôi
"Kệ"
Tìm biện pháp giáo dục

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    Video_13cailuongEnglish.flv Film_6_The_gioi_tu_nhien.flv Videoplayback.flv Xuan_20151.swf Kim_loan_chuc_tet.swf CUUNON_CHUC_TET.swf Images_3.jpg Diendanhaiduongcom19072.jpg Nho_mua_thu_ha_noi.swf R.jpg Dem_qua_nho_ban1.swf Xin_cam_on.swf Thien_nguyen_viole.swf DSC010541.jpg 051.swf Chuc_mung_832013.swf EmoiHN_PHO.swf Pm1_500.jpg KimLoan_chuc_tet.swf

    Thành viên trực tuyến

    0 khách và 0 thành viên

    LỜI VÀNG Ý NGỌC

    Sắp xếp dữ liệu

    Gốc > Tư liệu sử > Linh tinh >

    Đền Đồng Cổ và hội thề “Trung hiếu”

       Đền Đồng Cổ ven Hồ Tây được xây dựng năm 1028, thời Lý. Ngôi đền thờ thần Trống Đồng rất hiển linh, gắn liền với hội thề "Trung hiếu" với đạo lý sâu sắc, bắt đầu từ đời vua Lý Thái Tông về sau lễ hội thề này vẫn được duy trì ở thời Trần và Lê. Ngày nay, lễ hội đền Đồng Cổ ở Hà Nội được tổ chức vào ngày 4 tháng Tư âm lịch, đã mô phỏng lại hội thề lịch sử năm xưa...

    Ở Thăng Long có hai nơi thờ thần Đồng Cổ: Đền Đồng Cổ ở ven Hồ Tây (phường Bưởi) và miếu Đồng Cổ ở thôn Nguyên Xá, xã Minh Khai, huyện Từ Liêm.


     
    Đền Đồng Cổ ở phường Bưởi, quận Tây Hồ

    Đền Đồng Cổ ở Bưởi được xây dựng từ thời Lý vào năm 1028 ở làng Đông, nay ở số 353 đường Thụy Khuê, phường Bưởi, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.

    Sách Việt điện u linh (thế kỷ XIV) viết rằng, năm 1020 Thái tử Phật Mã (sau này là vua Lý Thái Tông) vâng mệnh vua cha đi đánh Chiêm Thành, kéo quân từ Thăng Long vào phía Nam, dừng chân tạm trú tại khu vực đền núi Đồng Cổ thuộc làng Đan Nê - Ái châu, nay thuộc xã Yên Thọ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa - đã nêu ở trên).

    Đến giờ Tý (khoảng 23 giờ đến 1 giờ sáng) bỗng từ ngoài có tiếng vọng lại vang dền như sấm. Phật Mã thấy bóng một người cao to chừng 8 thước (3,2m) hiện ra khuôn mặt phong sương, râu cứng, mặc áo giáp bào, tay cầm binh khí đứng trước mặt Phật Mã nói: “Ngài đi đánh giặc, tôi giúp một tay”. Phật Mã đem quân vào đến Tân Bình (Quảng Bình) thì đánh tan giặc... Thắng trận, trở về, Thái tử Phật Mã đến núi Đồng Cổ làm lễ tạ. Sách Toàn thư (Thế kỷ XV) kể thêm: Tám năm sau (năm 1028), trước hôm Lý Thái Tổ qua đời một ngày (mùng 3 tháng Ba âm lịch), lại được thần Đồng Cổ báo mộng rằng có ba tước vương sẽ nổi loạn... Phật Mã vâng lời cùng tùy tùng cấp tốc về kinh đô, quả như thần đã báo mộng. Khi Lý Thái Tổ vừa băng hà, ba con trai là Đông Chinh Vương, Vũ Đức Vương và Dực Thánh Vương đưa quân vào ém trong Cấm Thành, toan đánh úp. Do có phòng bị, lại được các tướng Lê Phụng Hiểu, Lê Nhân Nghĩa giúp, nên Thái tử đã dẹp được cuộc nổi loạn này. Mười ngày sau khi lên ngôi, Phật Mã (tức vua Lý Thái Tông, 1028 – 1054) cho xây ngay một ngôi đền thờ thần Đồng Cổ ở bên Hoàng thành và quyết định lấy ngày 25 tháng Ba tiến hành hội thề tại đền. Trước đền đắp một đàn cao, xung quanh cờ xí rợp trời, đội ngũ chỉnh tề, giáo gươm rợp đất. Giữa đàn là thần vị Đồng Cổ, quan giám thị điều khiển hội thề. Bách quan văn võ từ phía Đông đi vào đền, đến trước đàn, quì trước thần vị, đọc lời thề: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, Thần minh chu diệt”.

    Về sau vì ngay hội thề trùng với ngày kỵ của vua, nên hội thề chuyển sang ngày 4 tháng Tư (âm lịch). Các đời vua Lý đều giữ lệ thề ấy.

    Đến thời Trần cũng tiếp tục giữ lệ này. Sách Toàn thư chép: Hằng năm vào ngày mùng 4 tháng Tư, Tể tướng và trăm quan, hồi gà gáy đến trực ngoài cửa thành, mờ mờ sáng vào triều. Vua ngự ở cửa Hữu Lang. Trăm quan mặc nhung phục làm lễ lạy rồi lui ra. Đầy đủ nghi trường theo hầu ra cửa Tây kinh thành, đến đền Đồng Cổ, họp nhau thề: “Làm tôi hết lòng trung, làm quan trong sạch, ai trái lời thề này, Thần minh giết chết”. Đọc xong, quan Tể tướng sai đóng cửa đền lại để điểm danh, người nào vắng mặt thì bị phạt 5 quan tiền. Ngày hôm ấy, con trai, con gái bốn phương đổ về xem chật ních cả đường phố.

    Lễ hội Đồng Cổ gắn với Trống Đồng đó là biểu hiện sức mạnh vật chất, tinh thần cổ truyền của dân tộc. Hội thề “Trung hiếu” đền Đồng Cổ là lễ hội độc đáo, có ý nghĩa giáo dục đạo đức và truyền thống dân tộc sâu sắc.

    Cho đến nay đền Đồng Cổ vẫn giữ được tục lệ hội thề “Trung hiếu” truyền thống. Cứ ngày 4 tháng Tư âm lịch hằng năm, chính quyền và nhân dân lại mở hội. Tham gia lễ hội không chỉ có dân vùng Bưởi mà còn có đông đảo bà con các vùng khác.

    Đền Đồng Cổ ở Bưởi hiện còn quy mô kiến trúc không lớn, bao gồm: Tam quan, Đền chính, Hậu cung. Chính giữa Hậu cung là hương án thờ, trên đặt long ngai bài vị - áo mũ thần Đồng Cổ. Đền Đồng Cổ còn bảo lưu nhiều di vật có giá trị, trong đó phải kể đến 12 đạo sắc phong qua các thời Lê - Tây Sơn - Nguyễn. Đền được trùng tu lại năm 2009 - 2010 nhân Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.

    Đền Đồng Cổ bên Hồ Tây có vị trí quan trọng, gắn liền với hội thề “Trung hiếu” độc đáo và đặc sắc của Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến.

    Ở hai cột hoa biểu của đền Đồng Cổ có đắp đôi câu đối với nội dung rất hay:

    Bát diệp sơ, Đồng Cổ sơn ngôn, lịch đại bao phong lưu ngọc điệp,
    Thiên tải hậu, Chu Bàn hải thệ, nhất tâm trung hiếu phụng kim cương.

    Tạm dịch:

    Tám đời vua Lý, Đồng Cổ lời xưa, các triều phong thần còn lưu sắc ngọc.
    Ngàn năm trải, Đàn Thề ghi tạc, một lòng trung hiếu ánh vàng son.

    Trên bức ván nê (nối giữa gian Trung tế và Tiền tế), có bức hoành phi đề bốn chữ lớn: “Đồng Cổ linh từ”. Hai bên cửa phụ thông với gian Trung tế có đôi câu đối với nội dung sâu sắc:

    Toàn bằng Thanh Hóa Sơn Đông linh tích trứ,
    Bất hủ Hoàng Long Thành Đồng ngưỡng tiên truyền.

    Tạm dịch:

    Dựa vào Thanh Hóa Nê Sơn linh tích nổi,
    Bất hủ Long Thành Đồng Cổ hội thề lưu.

    Hàn lâm viện Thừa chỉ Trần Bá Lãm (1758 – 1815) có thơ đề vịnh về đền như sau:

    Liên hoa bát diệp mộng sơ tỉnh
    Hà xứ sơn thần tự hiển linh
    Tha niên Trần Cảnh di thần khí
    Dao vọng minh đàn thảo sắc thanh.

    Tạm dịch:

    Hoa sen tám cánh mộng vừa tỉnh
    Thanh xứ sơn thần đã hiển linh
    Năm nào Trần Đế di thần khí
    Xa ngắm đàn thề cỏ vẫn xanh.


    TS Lưu Minh Trị (HNM)

     

    Nhắn tin cho tác giả
    Vũ Mai Phương @ 11:52 15/05/2011
    Số lượt xem: 1464
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar
    Đền Đồng Cổ và hội thề “Trung hiếu”
     
    Gửi ý kiến